1.
Chủ nhật, nàng xách giỏ đi chợ. Chợ nhỏ mà ồn ào đủ các âm thanh, tiếng người mặc cả mua bán, tiếng chửi nhau í ới, tiếng hát khò khè phát ra từ cái loa bẹp méo mó nằm ở góc chợ đầy rác của hai mẹ con bà hát rong. Nàng đi trong chợ cẩn thận như chơi dò mìn để không đạp trúng những vũng nước thải đen ngòm, nhớp nháp nằm chẳng theo một quy tắc nào khắp chợ.
Nàng xách cái giỏ không đi như chạy ra khỏi chợ quên cả những vũng lầy dưới chân. Tiếng chửi đổng của bà bán thịt ở góc chợ nào đó như còn đuổi theo nàng “Những người ti hí mắt lươn, trai thì trộm cắp, gái buôn chồng người”. Nàng chả biết người bị chửi là ai nhưng những tiếng chửi ấy như gai nhọn cứa vào vết thương chưa bao giờ lành của nàng.
2.
Mười bốn tuổi, như bao đứa trẻ khác nàng cũng cảm nhận được sự phát triển từng ngày trong cái thân hình đen cháy của mình. Nàng luôn cố gắng thu mình trong những bộ quần áo ngắn cũn cỡn đã chuyển sang màu cháo lòng trước cả khi nàng được mặc chúng. Nàng cảm nhận rõ ràng những cái áo đang chật dần, những cái cúc ngực lúc nào cũng chực bật ra làm nàng chẳng bao giờ dám thở mạnh. Nàng bắt đầu cúi gằm và bước đi như chạy mỗi khi chạm phải cái nhìn của người đàn ông đang ở với mẹ con nàng. Đó là người đàn ông nát rượu, cái mặt lúc nào cũng tái tái như miếng thịt trâu ế thỉnh thoảng mẹ mua được để làm bữa ăn cải thiện mỗi hôm mẹ bán đươc con gà, con vịt nào. Đôi mắt lờ đờ, trắng nhợt của ông ta luôn làm nàng sợ. Mà chả phải mình nàng, trẻ con và cả người lớn ở cái làng này trừ mẹ nàng có ai dám dây dưa với ông ấy trừ phi họ phải nhờ đến ông làm cái việc mà cái làng này chỉ mình ông đảm trách: “bốc mộ”. Bọn trẻ con còn thì thầm với nhau là ông ấy vừa soạn xương người vừa uống rượu. Nàng lúc ấy cũng chỉ là một đứa trẻ, nhưng nàng buộc phải ở chung nhà với ông ta vì ông ấy là người đàn ông duy nhất ở cái làng này đoái hoài đến người đàn bà đã nghèo, xấu xí lại chửa hoang là mẹ nàng. Nàng lúc đó chưa đủ trải đời để hiểu tại sao mẹ nàng lại cần đến ông ta, rõ ràng ông ta chả mang lại điều gì tốt đẹp hơn cho cuộc đời cùng cực của mẹ con nàng. Mẹ chả mong hòng gì vào việc dựa vào vai ông ấy, lúc nào cũng say, đứng một mình ông ấy còn chưa đứng vững thì lấy gì mà đỡ đựợc mẹ con nàng. Nàng không thể hiểu mẹ chỉ cần có người đàn ông bên cạnh để vơi đi phần nào nỗi tủi nhục khi có một đứa con hoang như nàng, để khẳng định với đời rằng dù thể nào bà cũng có người nhìn đến, để yên tâm hơn khi trong nhà có ba người vào những đêm mưa gió dù rằng người đàn ông kia ngủ ngon lành mặc cho hai mẹ con nàng đối phó với những lỗ dột như bàn cờ trên mái rạ cũ mủn.
Mẹ nàng làm đủ mọi việc để kiếm tiền mà cái nghèo vẫn đeo đẳng cho tới tận khi bà nằm dưới đất sâu, lầm lì như bao ngôi mộ khác trong một ngày nắng vàng. Người đàn ông ấy chôn bà. Ngôi mộ không có nổi một cái vòng hoa, nàng đi ngắt những bông dành dành trắng muốt, thơm ngát để lên mộ mẹ rồi ngồi thừ ra cho đến tận khi bóng tối đổ xung quanh những ngôi mộ, tiếng dế, chão chuộc buồn não nuột thay cho kèn trống đưa tiễn mẹ nàng.
Khi ấy nàng đã gần 16 tuổi mà không biết chữ vì nàng chẳng đi học bao giờ. Nàng cũng chẳng làm bạn với lũ trẻ trong làng, chúng không thích nàng đơn giản vì nàng là con hoang, vì nàng giống hệt mẹ nàng mà mẹ nàng lại xấu quá.
Bàn tay bàn chân to bè, ngón ngắn choằn, móng vàng khè màu nước ruộng. Trên mặt bà chẳng có nét nào hòa hợp với nhau. Cái mũi to bè, sần sùi như vỏ cam, quanh năm đỏ nhất là những ngày trời trở rét. Khổ nhất là hai mắt bà chỉ như hai đường rạnh vội trên khuôn mặt, con mắt mà mấy bà trong xóm hay chửi đổng mỗi khi không tìm thấy chồng: “Cái giống ti hí mắt lươn, trai thì trộm cắp gái buôn chồng người”. Nàng là bản sao của mẹ, nhưng được cái phiên bản này cũng được nâng cấp chút ít dù chẳng thấp tháp vào đâu.
3.
Sau cái chết của mẹ nàng bỏ làng ra đi, lang bạt, lần hồi nàng cũng lên được thành phố và đi làm Osin cho người ta. Vì nàng xấu quá và vì đôi mắt nàng gian quá nên người ta giữ hết tiền công của nàng hết năm mới trả vì sợ nàng cuỗm mất đồ đạc. Lúc ấy nàng chỉ cần một công việc, một mái nhà để không phải lang thang, vật vờ với những cơn đói. Nàng chưa biết đếm tiền hàng tháng nên việc người ta bảo giữ lương lại chẳng khiến nàng bận tâm. Cả đời nàng đã bao giờ làm cái gì mà được nhận tiền công đâu.
Nàng biết ơn bà chủ lắm vì bà đã cho nàng một công việc, một mái nhà để ở. Nàng làm việc cật lực, không nề hà bất cứ việc gì, thức khuya dậy sớm để trả cái công giời bể của bà chủ. Từ đứa con gái nhà quê, đen đúa, mù chữ dần dần nàng học được cách bật bếp ga, cho thức ăn vào lò vi sóng, chế biến những món ăn cầu kỳ mà bà chủ sưu tầm được hòng giữ chân ông chủ ở nhà. Nàng cũng từ từ học đánh vần, thực ra là nàng học lỏm khi gia sư đến dạy học cho cậu chủ đang chuẩn bị vào lớp 1. Từ khi biết đọc nàng như bước vào một thế giới khác hẳn. Nàng tranh thủ đọc tất cả những gì nàng vớ được, những tờ báo vương vãi trong phòng khách được nàng xếp lại ngay ngắn và nàng không bao giờ quên lật vội vã những trang quảng cáo với các cô người mẫu chân dài, da trắng. Vì cái sự biết đọc ấy mà nàng càng làm việc chăm chỉ như để trả ơn ông bà chủ và trả ơn cả cậu chủ nữa, nàng sẵn sàng cười toe ngay cả khi cậu chủ hất đổ bát cháo vào người nàng chỉ vì cậu muốn đi ăn KFC chứ không ăn cháo.
4.
Nàng ở cho nhà đó được hai năm thì xin lĩnh lương và xin nghỉ. Bà chủ hứa hẹn sẽ tăng lương nhưng nàng nhất định ra đi. Bà không hề biết nàng đã muốn bỏ đi cách đây nửa tháng khi nghe bà chủ nói chuyện với mấy người bạn, người nào cũng vàng đeo đỏ người:
– Gớm, người ta bảo chủ nào tớ nấy mà sao bà chị móc được ở đâu ra cái con Osin xấu thế cơ chứ. Nghe nói ở bên Tàu nó có cuộc thi người xấu nhất ấy, con bé này mà sang bên ấy thể nào cũng phải dành giải đặc biệt.
Nước mắt nàng đã trực trào ra, nàng mong sao bà chủ nghĩ đến công sức làm việc của nàng gần hai năm qua mà nói tốt cho nàng một tiếng thì có lẽ nàng sẽ làm ở đây suốt không màng đến chuyện lương bổng nhưng tiếng cư
i của bà chủ như xuyên thủng trái tim nàng:
– Bà ơi! Tôi chọn mãi mới được đứa xấu như nó đấy, mình thì đi cả ngày, phải chọn con Osin Chung Vô Diệm thế mới an toàn chứ. Các bà cứ ham thuê mấy em trẻ đẹp rồi có ngày nó ễnh bụng ra rồi ngồi đấy mà tra khảo chồng nhé!
Nàng chạy như điên lên sân thượng, nàng khóc! Những giọt nước mắt méo mó lăn dài trên khuôn mặt xấu xí của nàng. Nàng không biết Chung Vô Diệm là ai nhưng nàng biết chắc đó là một người đàn bà xấu xí, xấu chắc cũng cỡ mẹ nàng. Lần đầu tiên nàng lờ mờ hiểu tại sao mẹ nàng lại cưu mang người đàn ông lúc nào cũng khật khưỡng say vì đó là người không chê mẹ xấu hoặc chí ít ông ấy cũng không nói toạc ra là mẹ nàng rất xấu. Tự nhiên nàng biết ơn người đàn ông ấy, biết ơn sự nghiện rượu của ông đã làm ông không bao giờ đủ tỉnh để biết mình đang nằm bên cạnh một người đàn bà xấu xí.
Buổi tối hôm ấy nàng bắt đầu nhẩm tính tiền lương, tiền thưởng suốt hai năm làm việc. Nàng nhìn chăm chăm lên trần nhà và bắt đầu suy nghĩ đến những ngày mù mù như bóng đêm phía trước.
5.
Bà chủ nhà kiểm tra kỹ cái túi xách của nàng, tất cả những chỗ nào khả dĩ cho việc cất giấu trên người nàng. Nàng đã học được cách không khóc trước mặt những người coi thường mình. Ông chủ khoát tay:
– Thôi để nó đi, nó mà gian thì hai năm qua cái nhà này phải mất khối thứ rồi.
– Không thể tin được cái ngữ ti hí mắt lươn này ông ơi!
Cuối cùng nàng cũng bước ra khỏi căn nhà nàng có giàn hoa giấy ấy. Hai tay nắm chặt cái túi đeo bên mình nàng ra bến xe về quê.
6.
Vẫn những bông hoa dành dành trắng muốt, thơm ngát, nàng đến thăm mộ mẹ. Ngôi mộ không lút cỏ như nàng tưởng. Người đàn ông không lúc nào tỉnh táo ấy dọn hẳn ra nghĩa địa ở, ông nhổ cỏ trên mộ mẹ nàng, đắp lại những chỗ đất lở. Chỉ 1 năm nữa là đến ngày bốc mộ mẹ. Nàng ngồi bệt trước mộ mẹ, nàng nhìn rất lâu những ngôi mộ xung quanh, nhiều ngôi mộ chẳng có người đoái hoài tới cỏ mọc xanh lút, nàng bỗng nghe lòng lan nhẹ một cảm giác dễ chịu. Mẹ chí ít cũng được người chăm sóc đến dù có lẽ bây giờ mẹ chẳng cảm nhận được điều đó dưới lòng đất lạnh kia. Nàng thấy mẹ hạnh phúc hơn nàng vì chí ít cũng có hai người quan tâm đến mẹ, người say kẻ tỉnh nhưng dù thế nào cũng là yêu thương. Nàng mua cái chăn bông mới cho người chăm sóc mộ phần của mẹ. Nàng thấy ông vẫn ngật ngưỡng say, trong một buổi chiều cuối năm ảm đạm.
7.
Làm chứng minh nhân dân xong, nàng đón xe lên thành phố. Nàng mân mê cái chứng minh nhân dân trong tay, từ lúc biết chữ nàng đã biết mình cần có cái này để chứng thực nàng đang tồn tại trên cõi đời này, dù rằng đó chỉ là một tờ giấy. Nàng đã có một cái tên, cái tên có lẽ hơi sến và nhất là nó chả liên quan tí nào tới cái ảnh xấu xí dán bên cạnh nó, nàng đã tự đặt cho mình một cái tên: HOÀI HƯƠNG. Nàng muốn mình được thơm ngát như những bông hoa dành dành trên mộ mẹ nàng. Cũng may là mẹ chẳng làm giấy khai sinh cho nàng nên bây giờ nàng có đặc quyền chọn cho mình một cái tên. Ông công an xã đã cười nghiêng ngả khi nàng đọc cái tên đó, ông ta chẳng ngượng ngùng nói thẳng: “Tao tưởng chỉ mấy đứa trắng da, dài tóc mới cần đổi từ Na, Mít, Mận thành Hương, thành Ngọc chứ cái ngữ như mày mà cũng cần đổi tên thì đúng là bọn thành phố ăn no rửng mỡ, nhiều tiền quá đâm ra lú hết cả rồi” Nàng cũng không khóc, không đỏ mặt khi nghe ông ta nói. Nàng xấu và nàng đã chấp nhận sự thật đó. Mà cũng chẳng có luật lệ nào cấm người xấu thì không được sở hữu những thứ đẹp đẽ, chí ít là một cái tên.
Lên đến nơi nàng tìm đến ngân hàng, đứng bần thần trước cửa rồi nàng đánh liều bước vào trong. Căn phòng mát lạnh, tự nhiên nàng run như người sốt rét. Chật vật một hồi nàng cũng gửi hết số tiền còn lại vào một tài khoản sau khi trừ ra một khoản cầm chừng cho những ngày sắp tới. Cái này nàng cũng học được từ bà chủ cũ. Bà đã hứa mở cho nàng cái sổ tiết kiệm để hàng năm bỏ tiền vào sau này có tiền về quê mở quán bán buôn. Nàng đã tự hoàn thành lời hứa suông của bà ta.
Không khó khăn mấy nàng tìm được chỗ trọ chung với những công nhân giày da ở một xóm trọ mà phải đi cả chục lần nàng mới nhớ được chỗ nào rẽ trái, rẽ phải. Căn phòng bé tí, nóng hầm hập. Ban ngày cả xóm đi làm, chỉ có mình nàng ở nhà. Nàng nghĩ nát nước để tìm một công việc làm. Nàng chẳng có nghề ngỗng gì, vốn liếng cũng chả có được bao nhiêu. Nàng không muốn đi làm Osin cho người ta nữa nhưng xin đi làm công nhân cũng không được nàng có đến trường buổi nào đâu mà người đòi ít nhất là phải học hết cấp hai mới đi làm công nhân được.
Cả hai dãy nhà trọ mà chỉ có một cái bể nước và hai cái nhà tắm, nhà vệ sinh nên mỗi buổi sáng là kẹt cứng luôn. Ngày nào cũng có tiếng cãi vã xung quanh cái bể nước. Buổi tối cũng thế, thành ra cái bể nước lại luôn là nơi đông vui nhất của khu nhà trọ.
Sau mấy ngày nằm nhà, suy ngẫm và chịu đựng những cái nhìn soi mói cũng như những tiếng xì xầm của hàng xóm, của chủ nhà, nàng quyết định bắt tay vào kế hoạch làm việc. Nàng run lắm nhưng cũng cố làm ra vẻ thản nhiên. Nàng ra ngân hàng rút vài trăm nghìn làm vốn. Nàng về đến khu trọ với loẻng xoẻng những xô chậu, xà phòng, dầu xả, bàn là, mắc áo. Những đồ nghề ấy cố gắng xếp gọn cũng chiếm hết cả căn phòng của nàng. Nàng ngồi chồm hỗm nét phấn run run viết lên tấm bảng con: NHẬN GIẶT LÀ QUẦN ÁO 1500 ĐỒNG 1 CÂN (khuyến mại xả thơm). Nàng lấm lét treo tấm bảng ra trước cửa phòng rồi chạy ngay vào trong phòng. Nàng ngồi trên tấm phản được đóng làm giường dựa lưng vào tường và thở dốc. Chưa bao giờ nàng cảm thấy hồi hộp như thế. Nàng vừa mong trời nhanh nhanh tối để xem phản ứng của những khách hàng tương lai, vừa lại muốn chạy ngay ra ngoài gỡ tấm bảng ấy xuống. Nàng sợ người ta cười con bé đã xấu xí lại dở hơi mới định giặt quần áo thuê cho công nhân ở xóm nghèo này. Nhưng nàng cũng đã nghĩ chán ra rồi, chỉ có công việc nàng là không phải đầu tư nhiều vốn, công việc này chỉ cần chăm chỉ mà cái này thì nàng có được thừa hưởng từ bà mẹ quanh năm cắm mặt xuống những đám ruộng, và cần có sức khỏe nữa, cái này nàng cũng có thừa, nàng chả bao giờ ốm đau gì cả.
Nàng đã quan sát những người ở hàng xóm của mình người nào cũng đi làm từ sáng sớm, tranh thủ tăng ca thêm được đồng nào hay đồng ấy, tối khuya mới về đến nhà, quần áo thay ra vất thành đống, chủ nhật mới giặt một lần mà có người tranh thủ làm thêm cả chủ nhật nên có lúc chả có quần áo mà mặc vì quần áo bẩn hết cả. Nếu một tuần mỗi người giặt một lần khoảng 5 hay 6 bộ quần áo chỉ mất khoảng hai hay 3 nghìn lại có quần áo sạch sẽ thơm tho chắc họ không tiếc. Xóm trọ này có khoảng 50 người nếu người nào cũng ủng hộ dịch vụ của nàng thì một thì một tuần nàng cũng có được trăm nghìn sau khi trừ tiền xà phòng, tiền nước, tiền điện, tiền xả thơm. Ai giặt đồ lần đầu tiên nàng cũng sẽ là quần áo khuyến mại còn sau đó ai cần là nàng sẽ tính thêm tiền vì điện ở đây đắt lắm.
Tháng đầu chỉ cần đủ tiền nhà tiền ăn là tốt rồi, những tháng sau nàng sẽ nhận thêm khách hàng ở xóm trọ bên cạnh. Biết đâu nàng sẽ chả mở được cả hệ thống giặt quần áo như bà Osin ở bên Nhật mở siêu thị ấy chứ. Ai có quyền cấm nàng mơ ước nào.
8.
Ông trời trả để ai khổ mãi bao giờ thì phải, nàng không ngờ dịch vụ của nàng lại đắt khách như thế. Nàng lại đau đầu với chuyện mới, làm thế nào để không nhầm quần áo của người này với người khác. Những ngày đầu nàng trả nhầm đồ của người này với người khác, xóm trọ trộn rộn tiếng cười, người ta gọi nhau í ới, nhưng chả ai trách mắng gì nàng, những người nghèo tiền thường giàu tình thương hơn hay sao ấy. Xóm trọ vui hơn hẳn từ khi có nàng, người ta không còn cãi nhau ở bể nước, không còn tranh nhau chỗ thùng nước để giặt đồ cho kịp khô còn có cái mặc đi làm. Những buổi tối ngồi là quần áo cho một yêu cầu đặc biệt dành cho những cuộc hẹn hò nàng cũng thấy vui lây với niềm vui của họ.
Bận rộn cả ngày nên chẳng có thời gian để buồn, khách hàng của nàng không chỉ trong xóm, mà bắt đầu có khách bên ngoài, nàng đã biết cách phân biệt đồ của từng người nên không còn cảnh nhầm lẫn nữa. Nàng bắt đầu có tiền để dành. Hàng tháng nàng mang gói tiền dầy cộm toàn đồng lẻ lên ngân hàng để gửi tiết kiệm. Từ ngày về đây làm nghề giặt thuê nàng cộng thêm vào gia tài xấu xí của mình đôi bàn tay không chỉ thô ráp mà còn nứt nẻ ngang dọc vì cả ngày ngâm nước. Những lúc nản lòng nàng lại lục ở đáy cái tùng tôn xếp ở góc giường một tờ báo được gấp làm tư: một tờ quảng cáo của thẩm mỹ viện với cô người mẫu làm nàng ngẩn ngơ.
Ở xóm trọ được gần một năm thì nàng đã gom góp gần đủ số tiền để có thể thực hiện giấc mơ bấy lâu nằm trong đáy hòm của mình. Nàng định bụng sẽ làm đến tết khi cả xóm trọ về quê ăn tết thì nàng sẽ thực hiện giấc mơ được làm một người bình thường của mình. Nàng đếm từng ngày.
9.
Xóm trọ có thêm một người không đến xí nghiệp vào mỗi buổi sáng như nàng. Đấy là em của một anh thợ chuyên làm khuôn giày, anh cậu phải đưa cậu lên đây vì bà mẹ mới mất ở nhà không có ai trông chừng cậu. Cậu ta gầy gò, lúc nào cũng đeo kính đen, khuôn mặt khó đoán tuổi. Cậu lên được một hôm thì ông anh sang gõ cửa phòng cô:
– Tôi có việc muốn nhờ cô. Chả là em trai tôi nó bị mù nên sau khi mẹ tôi mất để nó ở quê một mình thì không đành mà mang lên đây thì tôi vẫn phải đi làm. Cả xóm chỉ có mình cô ở nhà, phiền cô cho nó ăn chung bữa trưa còn tối về tôi sẽ lo. Tôi sẽ gửi tiền ăn của nó hàng tháng. Nó hiền lắm, cô đừng lo. Nhà neo người chẳng biết nhờ ai nên đánh liều sang nhờ cô.
Thế là từ ấy nàng không còn ăn trưa một mình. Khải ăn chậm và ăn ít. Những ngày đầu cậu ta chẳng mấy khi nói gì, đến bữa nàng gõ cửa phòng rồi dắt cậu ta qua ăn cơm, bữa cơm chỉ nghe tiếng bát đũa. Thi thoảng Khải chỉ nói vài câu cảm ơn khách sáo. Khải chỉ thay đổi khi anh cậu mang về cây đàn ghi ta cũ, không chỉ cậu thay đổi mà cả nàng cũng bị cuốn theo. Khải vui lên hẳn. Hằng ngày cậu đàn, tiếng gitar buồn như bóng tối vây quanh cậu, và cậu bắt đầu hát những bài hát của chính mình. Chả biết tại sao mà đến một ngày nàng chợt nhận ra mình bắt đầu lẩm bẩm hát theo những bài hát của Khải. Khải kể về giấc mơ học nhạc viện của mình. Cậu bị đục thủy tinh thể nhưng ở quê lại tin cậu bị ma ám nên có bao nhiêu tài sản đổ cho thầy cúng hết mà ánh sáng vẫn giã từ cậu mà đi. Bây giờ phải có cả vài trăm đô mới có thể thay thủy tinh thể cho cậu. Cậu chỉ nói đến ước mơ đó một lần trong lúc phấn khích rồi không bao giờ nhắc lại nữa. Khải dần quen với nếp sống mới, cậu tìm cách giúp đỡ công việc của nàng. Khải đứng múc nước cho nàng giặt đồ, những buổi trưa nàng đọc báo cho Khải nghe, những tờ báo cũ xin được của hàng xóm mà như mới với cả hai người.
Hàng xóm bắt đầu có tiếng xì xào, nàng đóng cửa nằm khóc một mình: “Rõ khéo chọn, xấu thế thì chỉ có thằng mù nó mới ngó tới chứ còn gì nữa, đẹp đôi thế cơ mà!”. Nàng càng ngày càng hiểu rõ tại sao người mẹ nàng lại nai lưng ra để nuôi thêm một người đàn ông trong căn nhà vốn đã xiêu vẹo của hai mẹ con.
Cuối tháng nàng đến ngân hàng với cọc tiền lẻ như mọi khi rồi chả hiểu sao nàng đi một mạch tới viện mắt. Nàng xin gặp bác sĩ và nói chuyện riêng với ông. Trưa hôm ấy nàng về nhà hơi muộn, nàng hớt hải mang hộp cơm về thì sững người khi thấy Khải loạng choạng ở đầu hẻm. Nàng hầm hầm bước tới nói như quát:
– Tại sao không ở nhà mà ra đây, nhỡ người ta đụng xe phải thì biết làm sao?
– Tại tôi không thấy Hương ở nhà, với lại muộn quá tôi sợ có chuyện gì nên tôi đi tìm
Nước mắt ứ ra từ đôi mắt quanh năm ti hí của nàng. Lần đầu tiên nàng khóc trước mặt người khác, có lẽ vì Khải không thấy nàng khóc nên nàng chẳng cần chùi nước mắt. Lần đầu tiên có người gọi tên nàng bằng giọng trìu mến xen lẫn lo lắng như thế. Nàng kéo tay Khải đi về xóm trọ. Hai cái bóng xiêu xiêu giữa trưa, rất gần bên nhau như thể một đôi.
– Tôi có tin vui đây này, người ta đang có đợt mổ mắt thay thủy tinh thể nhân đạo cho người nghèo. Để tôi dẫn Khải đi đăng ký, biết đâu lại được.
– Thôi, trước đây tôi đã làm đơn nhiều lần rồi nhưng không được đâu, đi lại thêm tốn kém ra.
– Đã bảo là được mà. Nàng không hề nhận ra giọng của mình rất quyết tâm.
10.
Nàng rút hết tiền tiết kiệm đóng viện phí cho Khải, phần còn lại nàng tính đủ nàng sống vài tháng ở một khu trọ khác và làm lại giấc mơ vẫn xếp trong đáy hòm của mình. Khải háo hức lắm, trước hôm đi mổ Khải nói rất khẽ gần như gió thoảng:
– Tôi nhìn thấy rồi là có thể nấu cơm cho Hương ăn, làm giúp Hương nhiều thứ hơn bây giờ nhiều. Hương đợi tôi về nhé!
Nàng không đưa Khải đi mổ vì thủ tục đã làm xong hết, bác sĩ cũng đồng ý với nàng sẽ thông báo Khải được mổ miễn phí sau khi nhận đủ tiền viện phí của nàng. Ngày Khải đi mổ nàng thu xếp đồ đạc về quê. Sau mỗi biến cố của cuộc đời nàng muốn về thăm mẹ, muốn hái những bông dành dành trắng muốt, thơm nức đặt trên mộ mẹ. Vả lại cũng sắp đến ngày bốc mộ cho mẹ rồi.
Khải gõ cửa và dúi vào tay cô một mảnh giấy gấp tư, rồi nói nhỏ mà giọng dứt khoát lắm:
– Nhất định phải đợi tôi về đấy nhé!
Khải đi rồi, nàng mới mở tờ giấy ra, những dòng chữ xiêu vẹo:
Hương à! Tôi đã nghe hết những gì người ta nói về Hương. Người ta bảo phải nhắm mắt vào mới có thể yêu người như Hương nhưng tôi lại muốn được mở mắt ra để có thể làm lụng, có thể chăm sóc cho Hương. Bác sĩ đã cho tôi biết hết rồi. Tại sao Hương lại làm như vậy? Đó là những đồng tiên khó nhọc Hương mới có được, không ai lại trao nó cho người dưng bao giờ, nếu Hương đã không coi tôi là người dưng thì nhất định phải đợi tôi trở về để tôi chăm sóc cho Hương.
Mắt nàng nhòe đi, cả đời nàng chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện hẹn hò yêu đương. Nàng áp mặt vào bức thư với những hàng chữ méo mó mà nàng biết Khải đã nắn nót viết. Mắt nàng nhòe đi, nàng đứng trước gương bần thần rồi quyết định thu dọn đồ đạc ra đi như người bỏ trốn.
Nàng lại đứng trước mộ mẹ với những đoá hoa trắng, ngôi mộ đã được cải tang và đắp xi–măng. Nàng không ngờ người đàn ông cả đời say ấy lại làm được công việc này. Nàng ghé thăm ông, vẫn ánh mắt đờ đẫn nhưng sao hôm nay nàng thấy không còn cảm giác sợ khi đến gần ông. Nàng buột miệng:
– Cháu muốn sửa lại căn nhà cũ, chú về đó ở cho nhà có hơi người, ở đây lạnh lắm. Đi làm cố vài năm nữa có tí vốn rồi cháu sẽ về.
– Khi nào về thì sửa lại mà ở, tôi ở đây quen rồi, với lại ở đây cho gần bà ấy.
Nàng thấy trong lòng rạng rỡ niềm vui, vui cho mẹ mình, người đàn bà xấu xí nhưng đến khi chết cũng không cô đơn. Còn nàng liệu đến lúc chết đi có được như thế hay không?
Nàng ra thăm mộ mẹ lần nữa trước khi lên thành phố. Nàng vẫn thích ngồi bệt bên mộ mẹ như ngày nào, nàng nghe đằng sau có tiếng chân bước, nàng đoán là ông lão say vì chỉ có ông và nàng là quan tâm đến ngôi mộ này. Cả hai cùng im lặng, nàng dợm bước đứng dậy rồi bước chân đi.
Đằng sau nàng không phải là ông say mà là Khải, bó hoa dành dành trắng muốt. Chân nàng như nhũn ra. Nàng muốn chạy trốn mà không nhấc được chân lên, tại sao Khải tìm dược nàng, tại sao lại nhận ra nàng? Nàng tự trả lời được ngay, địa chỉ của nàng có ghi ở sổ đăng ký tạm trú của chủ nhà trọ, còn nhận ra một cô gái xấu như nàng ở cái nghĩa địa vắng hoe này có khó gì đâu.
– Sao Hương lại không đợi tôi về? Trước đây tôi chỉ muốn được thấy ánh sáng trở lại vì chính mình nhưng từ lúc biết Hương tôi có thêm một động cơ nữa là để chứng minh cho người đời biết rằng tôi không cần nhắm mắt mới yêu em. Tôi muốn ở bên cạnh em ngay cả khi tôi nhìn thấy em bằng xương bằng thịt, người con gái đã hy sinh cả giấc mơ của mình cho tôi. Với tôi em tinh khiết và thơm nồng như tên em, như những bông hoa này.
Nắng lấp loá trên những cánh hoa trắng muốn, bóng nàng hòa vào bóng của Khải. Nàng không quên thì thầm với mẹ: “Con cũng là người đàn bà xấu xí nhưng hạnh phúc, mẹ ạ!!!”